KHÁT VỌNG VIỆT NAM

 photo vietnam_flag-1.gif

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

Thời tiết-Tỉ giá

Liên kết web Tổng hợp

LỊCH NGÀY

Tài nguyên

VÌ HOÀNG SA-TRƯỜNG SA

HS-TS-VN

ĐỔI MỚI GIÁO DỤC

GDVN

CHỦ QUYỀN VÀ TOÀN VẸN LÃNH THỔ

VÌ CÔNG LÍ VÀ HÒA BÌNH CHO BIỂN ĐÔNG

An ninh-Quốc phòng

Hoàng sa-Trường Sa

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Lịch âm dương

100 bài nhạc trẻ hay

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • CHÁT TRỰC TUYẾN

    Ảnh ngẫu nhiên

    Nam_hoc_moi.swf Ngay_moi.swf

    Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    Ảnh QP

    Định vị

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Ca nhạc chọn lọc

    Tìm kiếm thông tin

    Gốc > Thủ thuật-Chia sẻ >

    Truyền thuyết về các vị tiên

    Nữ Oa là một nữ thần Trung Quốc, một trong Tam Hoàng Ngũ Đế. Bà là em gái đồng thời cũng là vợ của Phục Hy. Theo thần thoại, Nữ Oa và Phục Hy là hai anh em, hiện ra khi núi Côn Lôn thành hình. Họ đã dâng đồ tế để xin đấng tạo hóa cho phép họ là hai anh em được lấy nhau thành chồng vợ. Sự phối hợp này được chấp nhận khi khói đốt từ lễ vật vẫn giữ nguyên dạng quện vào nhau.
    Thần thoại
    Nữ Oa trong thần thoại của người Trung Hoa là vị nữ thần tạo ra con người, rồi sau cùng với vua Phục Hy dạy dân chúng.
    Ta có thể thấy, trong các thần thoại nơi khác cũng đều có những vị thần tạo ra con người. Trong thần thoại Hy Lạp, Prô-mê-thêu là vị thần sáng tạo ra con người. Trong thần thoại của người Ai Cập, con người được ra đời do được thần gọi. Trong thần thoại Do Thái, Giô-hô-va sáng tạo ra con người.
    Còn trong thần thoại Trung Hoa, Nữ Oa đã tạo ra con người như thế nào ? Theo thần thoại, bà là một vị nữ thần đầu người thân thuồng luồng, chỉ khi tiếp xúc với con người bà mới biến phần thân dưới thành thân người thôi. Truyện kể, sau khi Bàn Cổ khai thiên lập địa, thế giới trần gian đã có sông nước, cây cỏ và muôn thú, mưa nắng thuận hòa. Nữ Oa tuy thấy nơi đây có chất của sự sống, như dường như sự sống còn chưa hoạt bát, bà cảm thấy cần phải tạo ra một loài động vật mới.
    Nữ Oa xem qua các loài động vật khác, bà nhận thấy chúng đều thiếu một thứ, đó chính là sự thông minh, tư duy, sáng tạo. Vì vậy, bà quyết định tạo ra một loài động vật có bộ óc cực kỳ thông minh, và động vật đó sẽ trở thành loài độc tôn trong các loại động vật.
    Nữ Oa suy nghĩ không biết phải tạo loại động vật đó có thân hình thế nào. Suy nghĩ mãi, bà biến thân mình trở thành người có tứ chi, rồi bay lên mây du ngoạn khắp nơi. Bỗng đến dòng sông Hoàng Hà rộng lớn, bà nhìn xuống mặt nước, lúc đó, nước trong xanh, mặt nước tựa như gương, in bóng hình của Nữ Oa. Bà nhìn thấy hình của mình dưới nước, bất giác nghĩ ra cách để tạo ra loài động vật mới. Bà tạo ra động vật mới có thân thể thế nào vậy ? Trả lời, bà tạo ra loại động vật này mô phỏng theo thân hình của bà. Nhưng bà lấy gì để tạo loại động vật đó ? Trả lời, bà dùng một thứ rất bình thường thôi, đó là…bùn. Bà lấy bùn dưới sông tạo ra con người. Nhờ khéo tay, bà nặn ra loài động vật rất hoàn chỉnh, chúng đứng thẳng bằng hai chân, có tay phối hợp với chân, thân thể trần trụi, bà còn chú ý tạo cho chúng một bộ óc thông minh hơn tất cả các loài nào khác. Rồi bà thổi hơi tiên vào, những động vật đất sét đó bỗng hóa thành động vật thật. Bà vui mừng, đặt cho chúng tên gọi là con người. Làm nhiều quá nên bà mệt mỏi, bà lấy sợi dây nhúng vào đất sét lỏng kéo lết cho những vệt đất tạo thành người. Những người do Nữ Oa nặn ra đẹp đẽ thành những kẻ quí phái, còn những giọt đất sét kéo lết trở thành những người thường dân. Con người trong thần thoại Trung Hoa đã hình thành như vậy đó.
    Nhưng bà không thể cứ mãi mãi nặn hình con người như thế này, cần phải ban cho họ khả năng sinh sản để họ tự phát triển giống nòi. Thế là bà tạo những tượng đất sét cho thân thể khỏe, thổi dương khí vào những tượng đó, những bức tượng đó trở thành đàn ông. Bà thổi âm khí vào những bức tượng trông yếu mềm hơn, thành đàn bà. Nữ Oa còn ban cho hai giới tính đó bộ phận sinh dục để sinh sản. Bà còn nghĩ cách để con người phân bố nhiều rải khắp nơi trên thế giới, liền dây ngoáy bùn dưới sông, cho bắn tung tóe lên khắp nơi trên mặt đất, tạo thành những lớp người phân bố khắp nơi.
    Sau đó, bà dạy dân chúng cách lấy nhau, hôn phối để sinh sản, phát triển nòi giống.
    Truyền thuyết kể rằng, sau khi đã tạo ra con người, công việc của Nữ Oa xem như đã dứt. Nhưng không ngờ, tiếp sau đó, một tai họa đã giáng xuống đầu con người. Ở trên thiên cung, thần Cộng Công làm phản, đem quân thiên ma đánh thiên giới. Thần Chúc Dung bèn đem quân ra đánh, cuối cùng đã dẹp được loạn tặc. Cộng Công bị thua đau, không muốn trở về mà chẳng làm nên gì, hắn bèn dùng đầu húc gãy cây trụ chống trời. Trụ trời bị gãy sụp, lập tức làm cho thiên địa hỗn độn. Ở dương gian cũng bị tai họa, trên bầu trời xuất hiện lỗ đen lớn, gây họa cho dương trần. Nhìn thấy cảnh nước sôi lửa bỏng, Nữ Oa thương tâm, không nỡ nhìn nhân dân lâm vào cảnh cực khổ, bà bèn quyết tâm vá lại bầu trời.
    Nữ Oa bèn bay khắp nơi, tìm đá ngũ sắc để vá trời. Sau khi đã tìm đủ, bà dùng lau sậy đốt với đá tạo lớp keo, rồi ra sức lấp dán, vá bầu trời lại. Chẳng bao lâu, bầu trời đã trở lại bình thường. Nhân dân không còn bị khổ sở nữa.
    Sau đó, để giúp dân chúng được vui, quên đi nỗi khiếp sợ đối với tai họa vừa rồi, Nữ Oa dùng tre trúc làm một loại nhạc cụ gọi là sáo, để thổi nhạc, bà còn chế tạo cho dân nhiều loại nhạc cụ khác.
    Nữ Oa thấy dân chúng không có lễ nghĩa gì, loạn luân với nhau, hôn phối bậy bạ, bà bèn đặt ra lễ về hôn nhân, dạy cho dân.
    Nữ Oa được người đời sau ghi nhớ, thường được tôn là “thần sinh sản”, “thần tình yêu”, “thần hôn nhân”, người ta còn lập đền thờ bà. Và đến ngày nay, người ta vẫn truyền tụng câu chuyện cổ “Nữ Oa đội đá vá trời”, bà rất được tôn sùng trong tín ngưỡng dân gian của dân tộc Trung Hoa, đặc biệt là dân tộc Hán.
    Bên cạnh đó, còn có một số truyền thuyết khác như Nữ Oa đã khống chế được Ngưu Vương. Con quái vật này thường đe dọa hãm hại con người bằng hai cái sừng và hai tai khổng lồ. Nữ Oa khống chế bằng cách sỏ một sợi giây phép vào mũi Ngưu Vương. Ngoài ra, Nữ Oa đã xây một lâu đài tráng lệ, là khuôn mẫu cho các cung điện có thành quách bao quanh của vua chúa Trung Hoa sau này. Những vật liệu xây cất lâu đài của Nữ Oa được các Thần Núi hoàn tất chỉ trong một đêm.

    Ngọc Hoàng Thượng Đế 


    Ngọc Hoàng Thượng Đế hay Ngọc Hoàng Đại Đế, gọi tắt là Ngọc Đế là vị vua tối cao của bầu trời, là chủ của Thiên đình trong quan niệm tại Trung Quốc và tại Việt Nam.

    Từ thượng cổ, người Trung Quốc đã tôn thờ một vị vua trên trời, gọi là Thượng Đế. Tuy nhiên từ đời Thương thì Thượng Đế đã hoàn toàn chỉ là một vị thần, không có quyền năng sáng thế. Vị Vua trời này được cho là sống tại một cung điện tại chính giữa bầu trời, tại Thiên Cực Bắc. Đến các triều đại về sau, vị thần này được gọi dưới nhiều danh hiệu khác nhau:
    • Hoàng Thiên, Hạo Thiên, Thiên Đế: đời Chu
    • Thái Nhất: Thiên quan thư trong Sử kí của Tư Mã Thiên dùng từ này
    • Thái Vi Ngọc Đế, Tinh Chủ Thái Vi viên: thời Hán Vũ đế
    • Phạm Thiên Ngọc Đế, Đế chủ Thiên Thị Viên: thời Hán Tuyên đế
    • Diễm Hoa Thiếu Vi Ngọc Đế, Thiên Tiên Định Vị: thời Hán Ai đế
    • Tử Vi Ngọc đế: đời Hán Quang Vũ đế
    • Ngọc Hoàng Đạo Quân, Cao Thượng Ngọc Đế: thời Nam Triều
    • Hạo thiên Kim khuyết Vô thượng Chí tôn Tự nhiên Diệu hữu Di la Chí chân Ngọc hoàng Thượng đế, Huyền khung Cao thượng Ngọc hoàng Đại đế.
    • Đến đời Minh, danh hiệu đầy đủ là: Cao thiên Thượng thánh Đại từ Nhân giả Ngọc Hoàng Đại Thiên tôn Huyền khung Cao Thượng đế. (Nghĩa là Vị thánh tối cao trên đỉnh trời, vô cùng nhân từ, là Ngọc Hoàng, bậc Thiên tôn vĩ đại, Huyền diệu lớn lao làm chủ trên cao).
    Ngoài ra Ngọc Hoàng Thượng đế còn được gọi bằng các tôn hiệu: Thiên Đế, Ngọc Đế, Đế Tể
    Ngọc Hoàng Thượng đế là vị vua của Thiên đình, cai quản toàn bộ bầu trời, mặt đất, biển cả, và cõi âm phủ. Ngọc Hoàng đứng đầu tất cả các thần, tiên, có quyền lực tối cao với các quyền năng tự nhiên như mây mưa sấm chớp, nước lửa... Ngọc Hoàng có quyền ra lệnh cho các vị thần thực hiện các ý định của mình, thường là những điều tốt đẹp. Ngọc Hoàng cũng là người xét phong cho các vị thần, hoặc xét phạt các thần tiên.
    Trong Đạo giáo, Ngọc Hoàng vẫn ở dưới Tam Thanh, do Nguyên Thuỷ Thiên Tôn chỉ định làm vua.
    Ngọc Hoàng được cho là ở và làm việc tại một cung điện trên trời gọi là Kim Khuyết Vân cung Linh Tiêu bảo điện (gọi tắt là điện Linh Tiêu), nơi có rất nhiều tiên nữ hầu hạ, và các thiên tướng, thiên binh canh gác.
    Có nhiều thuyết về quyến thuộc của Ngọc Hoàng, không thống nhất. Có truyền thuyết nói vợ của Ngọc Hoàng có hiệu là Thiên Hậu (không phải bà Thiên Hậu Thánh mẫu), có chín con trai. Có thuyết nói em gái Ngọc Hoàng sinh ra Nhị Lang. Có thuyết đồng nhất Ngọc Hoàng với Đông Vương Công, vợ là Tây Vương Mẫu, sinh bảy con gái.
    Có truyền thuyết cho rằng Ngọc Hoàng Thượng đế là Đông Vương Công, hay còn gọi là Mộc Công, có vợ là Tây Vương Mẫu. Có truyền thuyết lại cho rằng Ngọc Hoàng Thượng Đế vốn người trần, tên là Trương Hữu Nhân, là trang chủ thôn Trương Gia Loan. Vì tính hay nhường nhịn, ông được gọi là Trương Bách Nhẫn; do hay giúp đỡ, ông được gọi là Đại Quý Nhân.
    Trương Hữu Nhân có một vợ họ Vương, và bảy cô con gái: Đại Thư, Nhị Thư, Tam Thư, Tứ Thư, Ngũ Thư, Lục Thư và Trương Thất Nữ

    Theo thuyết này thì Ngọc Hoàng đã tu 1550 kiếp, mỗi kiếp (kalpa) dài 126 nghìn năm, mới lên được ngôi vị Ngọc Hoàng.
    Ngọc Hoàng và Dương mẫu có duy nhất một người con gái được gọi là công chúa. Bảy nàng tiên theo truyền thuyết là con Ngọc Hoàng, thực chất chỉ là bảy tiên nữ theo hầu hạ Dương mẫu.

    Tây Vương Mẫu


    Tây Vương Mẫu, còn gọi là Vương Mẫu nương nương, Diêu Trì Kim Mẫu, là vị nữ thần trong truyền thuyết Trung Quốc, có diện mạo là một bà già hiền lành. Tương truyền Vương Mẫu sống ở cung Dao Trì (Diêu Trì) núi Côn Lôn, trong vườn của bà có trồng bàn đào là giống đào tiên, ăn vào trẻ mãi không già.
    Có thuyết nói rằng thuở hỗn mang, tinh tuý trời đất sinh ra Nguyên Thuỷ Thiên vương, rồi sinh Thái Nguyên ngọc nữ. Thái Nguyên ngọc nữ sinh ra Thiên hoàng và Tây Vương Mẫu, Thiên hoàng sinh Địa hoàng, Địa hoàng sinh Nhân hoàng.[cần dẫn nguồn]
    Truyền thuyết khác : Tây Vương Mẫu tức Dao Trì Kim Mẫu cai quản Tây Côn Lôn , cùng với chồng là Hạo Thiên Thiên Đế cai quản Thiên đình , Ngọc Hoàng Đại Đế là con thứ 10 ( 9 người anh trước bị Hậu nghệ bắn chết ) của bà và Thiên Đế , sau khi Thiên Đế bị Ma tộc hại , ngọc hoàng đại đế lên thay. Trong Tây Du Kí có nói Tây Vương Mẫu có 1 vườn bàn đào , sau bị Tôn Ngộ Không ăn trộm gần hết .
    Có thuyết nói rằng Tây Vương Mẫu họ Dương tên Hồi và còn có tên là Uyển Cấm( Thiên Dao). Bà cùng chồng là Đông Vương Công (Hạo Thiên Thiên Đế) hòa hợp hai khí âm dương tạo ra trời đất thiên địa,họ là chủ nhân và cai quản mọi vật trên thế gian.
    Bà cai quản các nữ thần còn chồng bà cai quản các nam thần.
    Trong Tam Thế bất cứ ai muốn đăng thiên đắc đạo,khi lên trời đều phải bái Mộc Công (Đông Vương Công), sau bái Kim Mẫu( Tây Vương Mẫu) mới có thể lên chín tầng mây và nhập vào trong Tam Thánh.
    Tây Vương mẫu sau khi dùng phép thuật giúp cho Hoàng Đế đánh bại Xuy Vưu, còn tặng vua Thuấn địa đồ và phái sứ giả dạy cho cách sử dụng Bạch Ngọc địch(sáo) mà thổi thì hàng năm sẽ mưa gió thuận hòa,mùa màng sung túc.
    Tây Vương mẫu có tất cả 9 người con trai, 23 con gái, nên phụ nữ muốn sanh con gái thì thường cầu khấn bà. Dân gian cho rằng Tây Vương Mẫu có thuốc Trường Sinh Bất Lão ,sau đó đã tặng nó cho Hằng Nga.
    Đạo giáo lấy ngày 3 tháng 3 là ngày sinh Tây Vương Mẫu, và cho rằng đó là ngày bà mở Hội Bàn Đào, nên cúng tế bà.

    Chu Công



    Chu Công (chữ Hán: ), tên thật là Cơ Đán, là công thần khai quốc nhà Chu trong lịch sử Trung Quốc. Ông có công giúp Chu Vũ Vương (Cơ Phát) lập ra nhà Chu (1122 - 256 trước Công nguyên), giành quyền thống trị Trung Hoa từ tay nhà Thương. Sau khi Chu Vũ Vương chết, Cơ Đán đã giúp vua mới là Chu Thành Vương xây dựng và phát triển nhà Chu thành một nước mạnh mẽ và có công xây dựng nên nền văn hóa Trung Hoa rực rỡ trong quá khứ. Công lao to lớn của Cơ Đán với sự phát triển của văn hóa Trung Hoa khiến người ta gọi ông bằng chức vụ là Chu Công (quên đi cái tên Cơ Đán), khiến cho nhiều người lầm tưởng Chu Công là tên thật của ông.
    Cơ Đán là con thứ tư của Tây Bá hầu Cơ Xương (Chu Văn Vương), sau Bá Ấp Khảo, Cơ Phát và Quản Thúc Tiên. Ban đầu Cơ Đán làm quan dưới triều của Cơ Xương.

    Sau khi Cơ Xương mất, Cơ Phát thay chức của cha (do Bá Ấp Khảo bị vua Trụ nhà Thương sát hại), Cơ Đán làm quan giúp anh mình ổn định triều chính, cùng với công thần khác là Khương Tử Nha phát triển quân đội nhà Chu, từng bước tấn công nhà Thương đang suy sụp.

    Năm 1123 TCN, khi Khương Tử Nha cùng Cơ Phát chỉ huy quân đội phát động cuộc chiến tranh chống nhà Thương, Cơ Đán cùng ra mặt trận. Tại trận quyết định ở Mục Dã, ông đã giúp Cơ Phát viết Mục thệ, kể lại toàn bộ tội ác của vua Trụ. Quân Chu đại thắng, tiêu diệt nhà Thương. Trong lễ lên ngôi của Cơ Phát, Cơ Đán cầm búa lớn, cùng một người em khác là Thiệu Công cầm búa nhỏ đứng hai bên Cơ Phát làm lễ cáo tế trời đất.

    Nhà Chu lật đổ nhà Thương làm thiên tử, nhưng để giữ lòng người, vẫn phân phong cho người cũ của nhà Thương làm chư hầu. Vũ Vương cho con của Trụ Vương là Vũ Canh tiếp tục cai trị đất Ân để giữ hương hoả cho nhà Ân. Các vùng xung quanh nhà Ân còn chưa ổn định, nên chia làm ba khu vực: phía bắc Triều Ca đến đất Bội phong cho em trai Vũ Vương là Hoắc Thúc; phía đông Triều Ca là đất Vệ phong cho em vua là Quản Thúc, phía tây Triều Ca là đất Dung ông phong cho người em khác là Sái Thúc. Trên danh nghĩa, ba người em ông có trách nhiệm giúp đỡ Vũ Canh nhưng trên thực tế là để giám sát, vì vậy sử gọi là “Tam giám”.

    Chu Vũ Vương lên ngôi khi tuổi đã cao, lại lo nghĩ nhiều về việc nước nên được vài năm thì mắc bệnh nặng. Ông sai người lập đàn tế, cầu khấn trước bài vị Thái Vương, Vương Quý và Văn Vương, mong được chết thay cho Chu Vũ Vương. Được vài hôm, bệnh của Vũ vương thuyên giảm.

    Tuy nhiên không lâu sau đó, Chu Vũ Vương tái phát bệnh và qua đời (1116 TCN). Thái tử Tụng còn nhỏ lên nối ngôi, tức là Chu Thành Vương. Chu Công Đán được Chu Vũ Vương uỷ thác phụ chính cho cháu. Ông đã hết lòng phù trợ Chu Thành Vương qua giai đoạn khó khăn nhất của nhà Chu khi mới giành chính quyền.

    Ba người em khác của Chu Vũ Vương là Quản Thúc Tiên, Hoắc Thúc Xử và Sái Thúc Độ được phong đất làm "Tam giám" để canh chừng Vũ Canh nhưng lại nghe theo lời dụ của Vũ Canh, mưu lật nhà Chu để khôi phục nhà Thương nên cùng khởi loạn. Quản Thúc sai người phao tin rằng:

    Chu công có âm mưu cướp ngôi vua

    Chu Công bèn đến giãi bày với Khương Tử Nha và Thiệu công Thích rằng:

    Tôi không trốn tránh việc, phải ra mặt giúp nhà vua giải quyết việc trị quốc, là vì sợ có người chống lại vương thất nhà Chu.

    Chu Công được phong ở nước Lỗ nhưng ông ở lại triều đình làm phụ chính cai quản mọi việc. Ông cho con là Bá Cầm thay mình về nước Lỗ thụ phong, trước khi đi ông dặn dò Bá Cầm phải rất khiêm nhường và giữ lễ nghĩa trong việc trị quốc.

    Không lâu sau, Quản Thúc Độ, Hoắc Thúc Xử và Sái Thúc Tiên giúp Vũ Canh dấy binh của bộ lạc Hoắc Địa nổi loạn chống nhà Chu. Chu Công và Thiệu công tập trung dàn xếp xong việc nội chính, sau đó ông mang quân đi đông chinh.

    Qua 3 năm chiến tranh (1113 TCN), Chu Công đánh bại được quân nổi loạn. Ông giết chết Vũ Canh và Quản Thúc Tiên; bắt Hoắc Thúc Xử và Sái Thúc Độ đi đày. Tuy nhiên Chu Công vẫn không hoàn toàn tận diệt họ nhà Ân. Ông phong cho tông thất nhà Ân là Vi Tử Khải ở nước Tống, phong đất Vệ của Quản Thúc trước đây cho em nhỏ của Vũ Vương là Khang Thúc.

    Thái Bạch tinh quân ( Thái Bạch kim tinh )


    Là một trong số Cửu Diệu tinh quân là chín vị thần trông coi Cửu Diệu là 9 thiên thể chuyển động trên bầu trời theo quan điểm thiên văn học Trung Quốc và thần thoại Trung Quốc

    Thái Bạch tinh quân: vị thần trông coi Sao Kim, cũng là Thái Bạch Kim tinh

    Thái Bạch Kim Tinh là tên một vị thần trong thần thoại Trung Quốc.

    Vị thần này theo truyền thuyết có họ Lý, hình dáng là một ông già râu bạc áo trắng, là Tinh chủ của sao Kim (Kim Tinh), ngôi sao sáng nhất vào chập tối và buổi sáng, vì thế gọi là Lý Thái Bạch.Chính vì thấy sao Kim xuất hiện đầu tiên của buổi đêm và ban ngày, nên Thái Bạch Kim Tinh được cho là sứ giả của Thiên đình, và gọi là Lý Trường Canh.

    Hỏa Đức Tinh 



    Hỏa Đức tinh quân: vị thần trông coi Sao Hỏa
    Sao Hoả mang màu đỏ, là hành tinh mà thiên văn hiện đại quan tâm nhiều nhất. Màu đỏ là của phương Nam, phương của quẻ Ly là lửa trong Bát quái, và được coi là hội tụ từ ba khí, nên có tên gọi là Nam Ly Tam khí Vân Hán. Lửa Tam vị thì không gì dập nổi. Cai quản sao Hoả là thần lửa tam vị, được gọi là Hoả Đức Tinh Quân.

    Sau đây là trích đoạn về Hoả Đức Tinh Quân trong tiểu thuyết " Tam Quốc Diễn Nghĩa "

    Trích:
    My Trúc, tự là tử trọng, nhà giàu có tiếng tăm, thường qua Lạc Dương buôn bán. Ngày kia, trong khi đang ngồi trên xe trở về bỗng gặp một người đàn bà tuyệt sắc đứng bên đường, xin đi nhờ xe. Trúc bèn bước xuống đi bộ, nhường chỗ cho thiếu phụ. Nhưng mĩ nhân nhất định mời Trúc ngồi cùng, nếu không nàng sẽ xuống đi bộ, không dám phiên thêm nữa. Bấy giờ Trúc mới lên xe ngồi bên người đẹp, nhưng ngồi rất ngay ngắn, cặp mắt luôn luôn nhìn thẳng về phía trước, không hề lét ngay một chút. Xe đi được vài dặm, nàng xin dừng lại, cảm ơn và cáo từ. Lúc lâm biệt, bỗng nàng nhìn Trúc chăm chắm rồi bảo cho biết :

    - Ta chính là " Hoả Đức Tinh Quân " ở phương nam, phụng mệnh thượng đế xuống đốt nhà người đây ! Nay cảm động vì thấy ngươi lễ đãi ta, nên báo trước cho biết. Vậy hãy kíp về nhà chuyển đồ đạc của cải ra ngoài. Đêm nay ta tới đấy !

    Nói xong, biến mất! Trúc kinh lạ, vội phóng xe về, cùng người nhà chuyển đồ đặc của cải ra ngoài. Chiều tối hôm ấy, quả nhiên có lửa cháy từ dưới bếp, thiêu hết nhà cửa. Trúc thấy thế, càng đem của cải ra cứu kẻ khổ giúp người nghèo...

    Tài Bạch Tinh Quân ( Thần tài )



    Thần Tài là một vị thần trong tín ngưỡng Việt Nam và một số nước phương Đông.

    Theo truyền thuyết, thần tài chính là Triệu Công Minh, người đời nhà Tần. Ông lánh đời đi tu tại núi Chung Nam. Về sau đắc đạo, ông được phong làm Chính Nhất Huyền Đàn Nguyên Soái, coi việc đuổi trừ ôn dịch, cứu bệnh trừ tà. Hơn nữa, ai bị oan ức đến cầu cứu ông thì được giúp đỡ. Người buôn bán thì cúng cầu ông để được phát đạt may mắn.

    Người ta thường vẽ ông hình một người mặt đen, râu rậm, tay cầm roi, cưỡi cọp đen. Dân gian còn gọi ông là Tài Bạch Tinh Quân hay Triệu Công Nguyên Soái. Người đời vẽ ông trên một cái đĩa làm bằng kim loại trên bàn thờ để thờ cúng.

    Đi bên cạnh thần tài thường là Tấn Bảo Tiên Nữ và Chiêu Tài đồng Tử

    Tứ đại thiên Vương [ Tứ đại Kim cang ]
    Thiên vương (, sa. devarāja, ja. tennō) được xem như là người canh giữ thế giới, thường được thờ trong các chùa. Truyền thuyết cho rằng các Thiên vương sống trên núi Tu-di (sa. meru), canh giữ thế giới và Phật pháp. Các vị đó chiến đấu chống cái ác và bảo vệ những nơi Phật pháp được truyền bá. Thân thể các vị được áo giáp che chở, đầu mang giáp sắt.

    Có bốn vị Thiên vương (Tứ Thiên vương) ở bốn hướng:

    Bắc Thiên vương với tên là Đa văn thiên (多聞天) 

    có thân màu lục, tay trái cầm cờ chiến thắng, tay phải mang tượng chùa hoặc một bảo tháp (mà trong đó – theo truyền thuyết – Long Thụ đã tìm được những bộ kinh dưới Long cung), hoặc một con chuột mầu bạc phun ngọc. Vị Bắc Thiên vương là vị quan trọng nhất trong bốn vị Thiên vương




    Đa Văn Thiên Vương tay cầm Hỗn Nguyên Tán - hình tượng phổ biến trong Phật giáo, chùa Thiên Vương cổ sát - Đà Lạt - Lâm Đồng-Việt Nam

    Nam Thiên vương là Tăng trưởng thiên (增長天)

    có thân màu xanh, cầm gươm chém Vô minh. Vị này chuyên giữ gìn những chủng tử tốt đẹp trong con người
    là một trong bốn vị thần quan trọng mang danh hiệu Tứ Đại Thiên Vương trong tôn giáo truyền thống Đạo Giáo và Phật Giáo Trung Quốc. Đây là vị thần trấn phương Nam, giúp chúng sinh tăng trưởng thiện căn, bảo vệ cho Phật Pháp không bị xâm phạm, nên còn được gọi là Nam phương Thiên vương.




    Hình tượng Tăng Trưởng Thiên Vương tay cầm Bảo kiếm (Thanh Vân kiếm, Thanh quang bửu kiếm)

    Đông Thiên vương là Trì quốc thiên (持國天) 

    có thân trắng, tay cầm đàn, tiếng đàn sẽ làm tâm thức con người trở nên thanh tịnh
    là một trong bốn vị thần quan trọng mang danh hiệu Tứ Đại Thiên Vương trong tôn giáo truyền thống Đạo Giáo và Phật Giáo Trung Quốc. Đây là vị thần trấn phương Đông, giúp bảo hộ chúng sinh, hộ trì quốc thổ, nên còn được gọi là Đông phương Thiên vương.




    Hình tượng Trì Quốc Thiên Vương tay cầm đàn tỳ bà 


    Tây Thiên vương tên Quảng mục thiên (廣目天) 

    có thân màu đỏ, tay phải cầm rắn (sa. nāga) nhưng không cho nó chiếm giữ Như ý châu (ngọc như ý). Ngọc như ý chỉ chuyên dành cho những bậc giác ngộ và rắn chỉ là người canh giữ viên ngọc đó.
    là một trong bốn vị thần quan trọng mang danh hiệu Tứ Đại Thiên Vương trong tôn giáo truyền thống Đạo Giáo và Phật Giáo Trung Quốc. Đây là vị thần trấn phương Tây, theo dõi thế giới, bảo hộ nhân dân, nên còn được gọi là Tây phương Thiên vương.





    Những cái sai lệch trong TS online 



    Truyền thuyết Trung Quốc đã nhắc các vị này từ thế kỉ thứ 4, nhưng đến đời Đường (thế kỉ thứ 7) người ta mới thật sự thờ cúng các vị Thiên vương. Mỗi vị này có 91 con trai và 8 tướng quân, giúp canh giữ mười phương thế giới. Tương truyền rằng, năm 742, Đại sư Bất Không Kim Cương (sa. amoghavajra, Mật tông) niệm chú Đà-la-ni gọi các vị Thiên tướng xuống giúp chống ngoại xâm. Vị Bắc Thiên vương và Tây Thiên vương hiện xuống đẩy lùi giặc, nhà vua nhớ ơn cho xây tượng các vị trong chùa chiền.

    Natra Tam thái tử



    Na Tra (chữ Hán: ) là một vị thần trong thần thoại dân gian Trung Hoa. Được mô tả chi tiết thông qua các tác phẩm Phong thần diễn nghĩa, Tây du ký, Na Tra được mô tả là một vị thần có pháp lực cao cường, đứng vào hàng những vị thần cao cấp nhất của Thượng giới.
    Theo Phong thần diễn nghĩa, Na Tra vốn là hiện thân của Linh Châu Tử, đồ đệ của Thái Ất Chân Nhân trên thượng giới, do phạm phải luật trời, để Hồ Ly ngàn năm ăn trộm đào tiên nên bị giáng xuống trần gian chịu khổ. Na Tra đầu thai vào nhà Tổng trấn ải Trần Đường Lý Tịnh. Lúc bấy giờ phu nhân của Lý Tịnh là Ân Thị đã mang thai hơn ba năm mà vẫn chưa mãn nhụy khai hoa. Một đêm Ân phu nhân đang ngủ chợt mộng thấy ông tiên ném vào bụng mình một vật, đúng lúc đó thì trở mình đau bụng. Ân phu nhân sinh ra một cái bọc, từ cái bọc nở ra một đứa trẻ khôi ngô tuấn tú, tay cầm Càn Khôn Quyền, lưng quấn dải lụa Hỗn Thiên Lăng... Lý Tịnh đặt tên cho con là Lý Na Tra.

    Vốn là tướng nhà trời nên Na Tra lớn nhanh như thổi, mới bảy tuổi đã mình cao sáu thước, vai rộng hai thước, ngỗ nghịch muôn phần. Do còn nặng nợ trần gian và số kiếp gian truân, Na Tra đã tự mình gây ra họa lớn: Đánh chết con trai Ngao Bính của Đông Hải Long Vương, lột da bóc gân Ngao Bính, giương Càn Khôn Cung nặng nghìn cân bắn chết đệ tử của Thạch Cơ Nương Nương... Gia đình Lý Tịnh bị Tứ Hải Long Vương bắt, gây sức ép buộc Na Tra phải đền mạng. Để giữ trọn đạo hiếu và không làm liên lụy tới gia đình, Na Tra đã bóc thịt trả mẹ, lóc xương trả cha. Sau khi chết hồn Na Tra bay về với Thái Ất Chân Nhân, Thái Ất bày cho Na Tra báo mộng cho Ân Thị lập miếu thờ để giữ cho hồn không bị tan biến, song cũng vì Lý Tịnh quá cố chấp với những việc Na Tra đã gây ra nên đã đập tan miếu thờ. Chính vì lí do đó sau khi được sư phụ Thái Ất hoán thân tráo cốt vào cây sen, Na Tra đã tìm tới cha mình để trả thù... Vốn biết đệ tử mình ương bướng và ngang ngạnh nên Thái Ất đã cậy hai vị đại tiên là Văn Thù và Nhiên Đăng giáo huấn, Văn Thù và Nhiên Đăng đã dàn xếp, chỉ ra lỗi lầm của cả hai người, giúp cha con Lý Tịnh cởi bỏ hiềm khích, một lòng phò Chu diệt Trụ. Ở hồi kết của Phong Thần diễn nghĩa, Na Tra, Lý Tịnh, Lôi Chấn Tử, Dương Tiễn, Kim Tra, Mộc Tra là số ít trong những giáo đồ đắc đạo thành tiên. Sau khi theo cha Lý Tịnh cùng các vị thần tiên được phong thần lên trấn giữ thiên đình, đến thời nhà Đường thì Tam thái tử Na Tra cũng Thác tháp Thiên vương Lý Tịnh và Nhị lang thần Dương Tiễn xuất hiện và giao chiến với Tề thiên đại thánh Tôn Ngộ Không tại tác phẩm Tây Du Ký.
    Nhắc đến Na Tra, dân gian thường hình tượng đến một vị thiên tướng khôi ngô, tuấn tú, mặt đẹp như ngọc, mắt sáng như sao, môi đỏ như môi thiếu nữ. Song bản tính của Na Tra nóng nảy, thẳng thắn và thích xen vào chuyện bất bình. Độc giả có thể gặp Na Tra trong Phong Thần diễn nghĩa hay trong tiểu thuyết Tây du kí. Tay phải cầm Trường Thương Hỏa Tiễn Thần Phong, tay trái cầm Càn Không Quyền, vai đeo dải lụa Hỗn Thiên Lăng, lưng giắt Cửu Long Thần Chạo và Cục Kim Chuyên, chân đi bánh xe Phong Hoả luân [ Hỏa loan và Hỏa phượng ]. Na Tra là hiện thân của bậc thần tiên phóng khoáng, tính cách hiếu động và nghịch ngợm song hành động thì đầy tình nhân ái, chí công vô tư. Có lẽ đó cũng là khát vọng về một hình tượng sống của nhân gian thời bấy giờ.


    Nhị lang thần Dương Tiễn [ Nhị lang chân quân ]




    Dương Tiễn (tiếng Anh: Erlang Shen, tiếng Hoa:, tiếng Thái:เอ้อหลาง) hay Quán giang khẩu hiển thánh nhị lang chân quân hay Nhị lang hiển thánh chân quân, Thanh nguyên diệu chân quân; Chiêu Huệ hiển thánh nhân hữu vương là một nhân vật trong thần thoại Trung Quốc và một vị thần trong tôn giáo truyền thống Trung Quốc là Đạo Giáo và Phật Giáo. Dương Tiễn còn là nhân vật trong tác phẩm Tây du kí và Phong thần diễn nghĩa.
    Là con trai thứ 2 của Dương Thiên Hựu và Giao cơ tiên tử (em gái của Ngọc hoàng). Anh trai cả là Dương Giao,em gái là Dương Thiền (Hay còn gọi là Dương Liên tức Tam thánh mẫu) Sự phụ là Ngọc đỉnh chân nhân, thê tử : Tây Hải tam công chúa. Trong Phong Thần diễn nghĩa của Hứa Trọng Lâm, Dương Tiễn lập nhiều đại công giúp Khương Tử Nha, sau được phong thần. Công trạng lớn nhất mà Dương Tiễn giúp Khương Tử Nha là dùng kế bắt Ma gia tứ tướng và giết chết Hoa Hồ Điêu.

    Dương Tiễn còn xuất hiện khá nhiều trong tiểu thuyết Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân, trong tác phẩm này, Dương Tiễn giao đấu với Tôn Ngộ Không nhiều màn biến hóa, sau nhờ vòng Kim Cương của Thái Thượng Lão Quân mới bắt được Tôn Ngộ Không. Dương Tiễn còn giúp Tôn Ngộ Không tiêu diệt Cửu Đầu Trùng trong nạn Quét tháp biện kỳ oan giúp Đường Tam Tạng thoát nạn.

    Dương Tiễn được miêu tả trong tiểu thuyết và hình phố trong các đạo quán là một nam thanh niên khôi ngô tuấn tú, thân cao, vạm vỡ, có 3 mắt. Mắt giữa trán có diệu năng của tuệ nhãn không những là cánh cửa trí tuệ, phân biệt rõ vạn vật, những giả trái của thiên địa dưới cái nhìn thấu tận tâm can của Tuệ nhãn đều bị bóc trần, lại còn thấu được mười hai nhân duyên, hiện tượng sinh tử lưu chuyển của bậc A la hán “vô ngã vô chấp”, có thể ra khỏi sinh tử luân hồi, không bị trói buộc bởi thân tâm thế gian. Tai ông đeo xâu tai, eo lúc nào cũng mang cung tên, cong như mặt trăng, tay cầm đinh ba hai lưỡi (Tam tiêm lưỡng nhận thương hay tam tiêm kích). Đầu đội nón hình ba ngọn núi và phụng hoàng, mình khoác áo choàng vàng, đai bụng của ông được trang trí với 8 loại trang sức.

    Dương Tiễn là 1 trong những tướng kiệt xuất và thông minh dưới trướng Khương Tử Nha. Trí tuệ và 72 tài biến hoá của Dương Tiễn thể hiện ở những trận đánh trong Phong thần diễn nghĩa như lần giao tranh với Ma gia tứ tướng ( Ma Lễ Thanh, Ma Lễ Hồng, Ma Lễ Thọ, Mã Lễ Hải ), dùng Bát Trận Đồ giết chết Viên Hồng và Mai Sơn thất quái, lập nhiều đại công đặc biệt là trong 2 trận đại chiến Tru Tiên và Vạn Tiên.

    Trong Phong thần diễn nghĩa, mắt thứ ba của Dương Tiễn nhiều lần đấu cùng tam nhãn của Văn Thái Sư tức Văn Trọng đều bất phân thắng bại. Dương Tiễn còn dùng kế chui vào bụng Hoa Hồ Điêu của Ma Lễ Thọ giết chết con vật giỏi nhất của Ma Gia tứ tướng và còn lấy trộm Hỗn Nguyên Tán của Ma Lễ Hồng. Cũng theo thần thoại Trung Quốc thì danh tướng Vương Tiễn chính là Dương Tiễn chuyển thế, được Ngọc Hoàng phái xuống đầu thai giúp Tần Thủy Hoàng thống nhất sáu nước.

    Dương Tiễn sử dụng Tam Tiên Đao (do Giao Long ba đầu hóa thành ) làm pháp khí của mình. Ngoài ra còn có đệ tử trung thành là Hạo Thiên Khuyển. Hạo Thiên Khuyển từng giúp Dương Tiễn trong việc bắt Tôn Ngộ Không trong Tây Du Ký khi Ngộ Không loạn bàn đào. Tuy nhiên Hạo Thiên Khuyển trong Phong Thần diễn nghĩa lại không được đề cập đến mà dân gian chỉ biết đến Hao Thiên Khuyển trong Tây Du Ký.

    Hao Thiên Khuyển [ Hống Thiên Khuyển ]



    Hao Thiên Khuyển hay Khiếu Thiên Khuyển là một con chó mực của Nhị lang thần Dương Tiễn trong thần thoại Trung Hoa, vốn là chó kéo xe của Viêm Đế nay thuộc sở hữu của Nhị lang thần, con chó này phò trợ cho Nhị lang thần diệt yêu trừ ma. Hao Thiên Khuyển chính là một trong những pháp bảo nổi tiếng của Nhị lang thần và là nỗi hãi hùng của biết bao yêu ma quỷ quái. Hình ảnh Dương Tiễn tay cầm Tam tiêm lưỡng nhận đao, rong ruổi khắp càn khôn cùng Hao Thiên Khuyển, oai phong lẫm liệt, hùng dũng tráng khí, hô phong gọi gió với nhiều thiên binh thiên tướng phủ phục bên mình là hình ảnh đặc trưng của Nhị lang thần. Trong tiểu thuyết kinh điển Tây du kí, khi đánh nhau với Tôn Ngộ Không, Nhị lang thần đã thả Hao Thiên Khuyển rượt bắt Ngộ Không. Hao Thiên khuyển cũng được đề cập đến trong Bảo Liên Đăng hay Bát Tiên. Nhìn chung, Hao Thiên Khuyển luôn đi kèm với Nhị lang thần.


    Chức Nữ



    Ngưu Lang - Chức Nữ hay Ông Ngâu - Bà Ngâu là câu truyện cổ tích. Có hai phiên bản, một của Việt Nam và một của Trung Quốc.Trong truyện cổ tích Trung Quốc cũng có nhắc tới Ngưu Lang () và Chức Nữ  nhưng nội dung câu chuyện cũng như các dị bản thì không giống với truyện của Việt Nam.

    Ngưu Lang là vị thần chăn trâu của Ngọc Hoàng Thượng đế, vì say mê một tiên nữ phụ trách việc dệt vải tên là Chức Nữ nên bỏ bễ việc chăn trâu, để trâu đi nghênh ngang vào điện Ngọc Hư. Chức Nữ cũng vì mê tiếng tiêu của Ngưu Lang nên trễ nải việc dệt vải. Ngọc Hoàng giận giữ, bắt cả hai phải ở cách xa nhau, người đầu sông Ngân, kẻ cuối sông.

    Sau đó, Ngọc Hoàng thương tình nên ra ơn cho hai người mỗi năm được gặp nhau một lần vào đêm mùng 7 tháng Bảy âm lịch. Khi tiễn biệt nhau, Ngưu Lang và Chức Nữ khóc sướt mướt. Nước mắt của họ rơi xuống trần hóa thành cơn mưa và được người dưới trần gian đặt tên là mưa ngâu.

    Thời bấy giờ sông Ngân trên thiên đình không có một cây cầu nào cả nên Ngọc Hoàng mới ra lệnh cho làm cầu để Ngưu Lang và Chức Nữ được gặp nhau. Các phường thợ mộc ở trần thế được vời lên trời để xây cầu. Vì mạnh ai nấy làm, không ai nghe ai, họ cãi nhau chí chóe nên đến kỳ hạn mà cầu vẫn không xong. Ngọc Hoàng bực tức, bắt tội các phường thợ mộc hóa kiếp làm quạ lấy đầu sắp lại làm cầu cho Ngưu Lang và Chức Nữ gặp nhau. Vì thế cứ tới tháng bảy là loài quạ phải họp nhau lại để chuẩn bị lên trời bắc Ô kiều. Khi gặp nhau, nhớ lại chuyện xưa nên chúng lại lao vào cắn mổ nhau đến xác xơ lông cánh. Ngưu Lang và Chức Nữ lên cầu, nhìn xuống thấy một đám đen lúc nhúc ở dưới chân thì lấy làm gớm ghiếc, mới ra lệnh cho đàn chim ô thước mỗi khi lên trời làm cầu thì phải nhổ sạch lông đầu. Từ đó, cứ tới tháng bảy thì loài quạ lông thì xơ xác, đầu thì rụng hết lông. Tuy nhiên sau một thời gian vì cảm thương cho sự chia lìa của cặp vợ chồng,Ngọc Hoàng đã trả lại hình hài cho những người thợ mộc và ra lệnh họ phải làm một cây cầu thật vững chắc để Ngưu Lang và Chức Nữ có thể gặp nhau.Từ đó, Ngưu Lang và Chức Nữ được sống bên nhau Có lẽ do tích này mà vùng Bình Định (miền Trung Việt Nam) có từ "quạ làm xâu" nói về những con quạ vắng đi đâu một thời gian rồi trở về với cái đầu trọc lóc trong rất khôi hài Có dị bản khác cho rằng tên gọi của Ô kiều là cầu Ô Thước do chim Ô (quạ) và chim Thước (chim Khách) kết cánh tạo ra.

    Từ Phúc 

     


    Từ Phúc hay Từ Phất , tự Quân Phòng, người đất Tề thời nhà Tần. Là một phương sĩ, ông từng đảm nhận chức vụ ngự y cho Tần Thủy Hoàng.

    Quê quán của ông hiện nay vẫn chưa xác định được. Một thuyết cho rằng ông sinh ra tại trấn Từ Phúc, thị xã Long Khẩu, địa cấp thị Yên Đài, tỉnh Sơn Đông. Thuyết khác cho rằng ông sinh ra tại thôn Từ Phúc, hương Kim Sơn, huyện Cám Du, thị xã Liên Vân Cảng, tỉnh Giang Tô. Một thuyết khác nữa cho rằng ông sinh ra tại thị xã Giao Nam, địa cấp thị Thanh Đảo, tỉnh Sơn Đông.

    Trong một số sử sách, như Sử ký của Tư Mã Thiên, Tam quốc chí của Trần Thọ v.v người ta có ghi chép về các chuyến đi của ông sang Nhật Bản nhằm tìm kiếm thuốc trường sinh bất lão. Hai chuyến đi của ông diễn ra vào khoảng năm 219 TCN tới năm 210 TCN. Người ta tin rằng đội tàu thuyền của ông khi đó bao gồm 60 thuyền ba buồm và khoảng 5.000 thủy thủy đoàn, 3.000 đồng nam và đồng nữ, cũng như nhiều thợ thủ công của các ngành nghề khác nhau. Sau khi ông lên tàu đi chuyến thứ hai vào năm 210 TCN, ông đã không bao giờ trở lại. Một số nguồn lại chỉ ra rằng ông chỉ đem đi 500 đồng nam và 500 đồng nữ. Một số ghi chép khác nhau lại gợi ý rằng ông có thể đã đi đến nơi và mất tại Nhật Bản.
    Hoàng đế nhà Tần là Tần Thủy Hoàng do lo sợ chết nên đã tìm cách để trường sinh. Ông giao phó cho Từ Phúc nhiệm vụ tìm kiếm bí mật của sự bất tử. Năm 219 TCN, Từ Phúc được giao nhiệm vụ cùng 1.000 đồng nam và đồng nữ với 3 năm lương thực dự phòng đi tìm kiếm thuốc trường sinh bất lão từ các vị tiên sống trên núi Bồng Lai ngoài biển đông. Đội tàu của ông đã đi mất vài năm mà không tìm thấy ngọn núi này. Năm 210 TCN, khi Tần Thủy Hoàng hỏi ông về công việc này, Từ Phúc đã tâu rằng có một quái vật biển to lớn đã ngăn chặn đường đi và đề nghị dùng các cung thủ để giết chết quái vật. Tần Thủy Hoàng đồng ý và giao cho các cung thủ công việc đi giết quái vật. Từ Phúc sau đó lại lên đường nhưng đã không trở lại. Sử ký (Tần Thủy Hoàng bản kỷ và Hoài Nam Hành Sơn liệt truyện) viết rằng ông đã đến một nơi "bằng phẳng và các đầm lầy rộng lớn"  và tự xưng làm vua và không bao giờ quay lại.
    Tượng Từ Phúc vượt biển tại Sơn Đông

    Các sử liệu muộn hơn cũng không ghi chép rõ ràng về vị trí điểm đến của Từ Phúc. Tam quốc chí (Ngô thư Ngô chủ quyền truyện), Hậu Hán thư (Đông Di liệt truyện) tất cả đều viết rằng ông đã đến "Đản Châu"  hay "Đạn Châu" , nhưng Đản/Đạn Châu ở chỗ nào thì không nói rõ. Cuối cùng, hơn 1.100 năm sau chuyến đi cuối cùng của Từ Phúc thì một tăng nhân là Nghĩa Sở đã viết trong quyển 21 của Nghĩa Sở lục thiếp (tục gọi là Thích thị lục thiếp, viết thời Hậu Chu (951-960) của Ngũ đại Thập quốc) rằng Từ Phúc đã tới Nhật Bản, và cũng viết rằng Từ Phúc đã đặt tên cho núi Phú Sĩ là Bồng Lai. Học thuyết này là thuyết đã hình thành nên "Truyền thuyết Từ Phúc" sau này phổ biến tại Nhật Bản, được ghi nhận bởi nhiều tượng đài kỷ niệm ông tại đất nước này.

    Những người ủng hộ học thuyết cho rằng Từ Phúc đã tới Nhật Bản đều công nhận ông như là sự xúc tác cho sự phát triển của xã hội Nhật Bản cổ đại. Văn hóa Jōmon tồn tại ở Nhật Bản cổ đại trong trên 6.000 năm đã đột nhiên biến mất vào khoảng năm 300 TCN. Các kỹ thuật và kiến thức về nông nghiệp mà Từ Phúc đem theo được cho là đã góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống của người Nhật cổ đại và người ta cũng tin rằng ông đã đem nhiều loại cây trồng mới cũng như kỹ thuật mới tới Nhật Bản cổ đại. Đối với những thành tựu này là sự ghi nhận công lao của ông trong việc người Nhật thờ cúng ông như là "Thần nông nghiệp", "Thần y tế" và "Thần tơ lụa". Hàng loạt đền thờ và đài tưởng niệm Từ Phúc có thể tìm thấy ở nhiều nơi trên đất nước Nhật Bản và ông được cúng tế vào ngày 28 tháng 11 hàng năm.

    Tại Từ Châu, gần Dương Châu, có Viện nghiên cứu Từ Phúc của Cao đẳng Sư phạm Từ Châu


    Nam & Bắc Tinh Quân 




    Nam Tào và Bắc Đẩu là hai vì sao ở trên trục Nam Bắc của Địa cầu. Khi Địa cầu chuyển động tự quay và quay chung quanh Mặt Trời, hai vì sao nầy vẫn luôn luôn ở trên trục Nam Bắc của Địa cầu.
    - Đặc biệt sao Bắc đẩu là một Định tinh, ở tại trung tâm của Càn Khôn Vũ Trụ, nên tất cả các chùm sao khác đều quay quanh sao Bắc Đẩu.
    - Sao Nam Tào không phải là một Định tinh, nhưng có chuyển động thế nào để luôn luôn nằm trên hướng Nam của trục Địa cầu. Cho nên các nhà hàng hải dùng sao Nam Tào để định hướng Nam của Địa cầu.

    Muốn tìm sao Nam Tào, trước hết phải tìm chòm sao Chữ Thập (La Croix du Sud) gồm bốn ngôi sao khá sáng luôn luôn hiện rõ ở lưng chừng bầu Trời phía Nam. Từ sao Chữ Thập nầy, kéo một đường thẳng tưởng tượng theo nét sổ dài xuống chân trời thì gặp một ngôi sao hơi lu nằm gần sát chơn trời. Đó là sao Nam Tào, nên cũng gọi là sao Nam Cực.

    Nam Tào Bắc Đẩu là hai vị Tiên coi Bộ Sanh và Bộ Tử của nhơn loại nơi cõi trần.
    - Nam Tào (Nam Cực) Tiên Ông coi Bộ Sanh.
    - Bắc Đẩu Tiên Ông coi Bộ Tử.

    Dưới đây là một trích đoạn trong tiểu thuyết " Tam Quốc Diễn Nghĩa " của La Quán Trung nói về 2 vị Nam Tào, Bắc Đầu này :


    Trích:
    Ông Quản Lộ, tự là Công Minh, vốn người ở đất Bình Nguyên đời Tam Quốc, diện mạo xấu xí, thích uống rượu. Từ bé, Quản Lôï thích xem Thiên văn, thường đêm nằm xem trăng sao, thao thức không chợp mắt, cha mẹ ngăn cấm không được.
    Vừa lớn lên, Quản Lộ làu thông Kinh Dịch, hiểu được ý nghĩa uyên thâm, biết đoán chiều gió, tinh thông khoa lý số, và giỏi cả việc xem tướng.
    Một hôm, Quản Lộ ra cánh đồng dạo chơi, thấy một gã thanh niên đang cày ruộng. Quản Lộ dừng lại bên lề đường, ngắm anh thợ cày một lúc, đoạn gọi lại hỏi:
    - Nầy anh kia, dám hỏi quí danh và niên kỷ bao nhiêu?
    - Tôi họ Triệu, tên Nhan, 19 tuổi. Còn tiên sinh là ai?
    - Ta là Quản Lộ. Ta thấy trên quầng mắt của anh có tử khí, chỉ 3 ngày nữa là anh phải chết. Tiếc thay gương mặt đẹp thế kia mà sống không thọ.
    Triệu Nhan nghe Quản Lộ nói thế thì lo sợ, về nhà ngay báo cho cha biết. Người cha lập tức đi tìm Quản Lộ, rồi phủ phục xuống đất kêu khóc:
    - Xin tiên sinh rủ lòng thương cứu mạng con tôi.
    Quản Lộ đáp: - Đó là số Trời, cầu đảo sao được.
    Ông lão vẫn năn nỉ van lơn:
    - Già nầy chỉ có một đứa con trai là Triệu Nhan, xin tiên sinh rủ lòng thương mà cứu cho.
    Nói xong cả hai cha con đều sụp lạy Quản Lộ.
    Quản Lộ thấy hai cha con thảm thiết quá, không nỡ bỏ, đành mách bảo:
    - Anh hãy về nhà tìm một vò rượu thật tinh khiết và thật ngon, với một ít món nhắm ngon, không được dùng thịt, ngày mai đem vào núi Nam Sơn, tìm gốc cây cổ thụ, sẽ thấy trên phiến đá có hai ông già đang ngồi đánh cờ.
    Một ông mặc áo trắng, ngồi quay mặt hướng Nam, dung mạo nghiêm khắc.
    Một ông mặc áo hồng, ngồi quay mặt hướng Bắc, dung mạo hiền hòa.
    Bấy giờ, thừa lúc hai vị cao hứng mãi mê đánh cờ, anh cứ bày rượu và món nhắm ra mâm dâng lên. Đợi cho hai ông lão ăn uống và đánh cờ xong thì anh lạy khóc mà van xin tuổi thọ, như thế may ra anh được hai vị sửa đổi tuổi thọ cho anh. Nhớ kỹ một điều là đừng nói ta xúi anh làm việc nầy nhé.
    Cha của Triệu Nhan mời Quản Lộ về nhà để thết đãi và chờ xem kết quả.
    Hôm sau, Triệu Nhan làm y như lời Quản Lộ dặn, đem rượu ngon, nem nướng, ly chén lên núi Nam Sơn, đi chừng năm dặm thì đến cây đại thọ, gặp hai ông Tiên đang ngồi đánh cờ trên phiến đá. Triệu Nhan đội mâm rượu sẻ sẻ đến gần, hai ông chăm chú đánh cờ. Triệu Nhan quì dâng mâm lên, đặt trên bàn thạch. Hai ông mãi mê đánh cờ, cao hứng, bất giác đưa tay cầm chén rượu nâng lên uống cạn, rồi vừa ăn uống vừa đánh cờ một cách hứng thú ngon lành.
    Đợi hai ông đánh xong ván cờ, Triệu Nhan sụp lạy khóc òa lên, cầu xin hai Tiên Ông cho thêm tuổi thọ. Hai ông lão giựt mình nhìn lại thấy Triệu Nhan như thế, đoạn ông áo đỏ bảo ông áo trắng:
    - Đây chắc là gã Quản Lộ xúi nó đến đây, nhưng hai ta đã dùng của nó thì cũng nên giúp nó.
    Ông áo trắng liền rút cuốn Bộ Tử trong mình ra, tìm một lúc rồi bảo Triệu Nhan:
    - Năm nay nhà ngươi 19 tuổi, đáng lý phải chết, giờ đây ta thêm cho một chữ cửu lên trên hai chữ thập cửu thì ngươi sẽ sống tới cửu thập cửu tức là 99 tuổi. Nhưng ngươi về nhà nói với gã Quản Lộ rằng: Từ nay phải chừa đi, chớ tiết lộ Thiên cơ nữa. Nếu không thì Trời sẽ khiển phạt nghe chưa?
    Ông áo hồng cũng rút cuốn Bộ Sanh trong mình ra, rồi cũng tìm chỗ tên Triệu Nhan thêm vào một nét bút.
    Một cơn gió thơm ngào ngạt thổi qua, hai Ông Tiên biến thành hai con hạc trắng bay lên mất hút.
    Triệu Nhan mừng rỡ lạy tạ, rồi thu xếp ly chén trở về nhà. Khi gặp lại Quản Lộ và cha, Triệu Nhan thuật lại hết các việc, không quên thuật lại lời nhắn nhủ của hai ông Tiên cho Quản Lộ rõ. Triệu Nhan lại hỏi Quản Lộ hai ông Tiên ấy là ai?
    Quản Lộ đáp:
    - Ông Tiên áo hồng chính là ngôi Nam Đẩu, gọi là Nam Tào; còn ông Tiên áo trắng chính là ngôi Bắc Đẩu.
    Triệu Nhan lại hỏi:
    - Tôi nghe nói Bắc Đẩu có 7 vị, sao chỉ thấy có 1 ông?
    Quản Lộ giải thích:
    - Phân ra thì thành 7, kết hợp lại thì thành 1.
    Bắc Đẩu cầm Bộ Tử.
    Nam Tào cầm Bộ Sanh.
    Nay đã sửa tuổi thọ của anh rồi thì anh còn lo chi nữa.
    Từ đó, Quản Lộ lo sợ tội tiết lộ Thiên cơ nên không dám khinh suất nói hở việc huyền bí cho ai biết nữa. 

    Nguyệt Hạ Lão Nhân




    Nguyệt hạ lão nhân


    Nhắn tin cho tác giả
    Bùi Như Quỳnh @ 17:38 01/05/2015
    Số lượt xem: 1433
    Số lượt thích: 1 người (Bùi Như Quỳnh)
     
    Gửi ý kiến

    Bản đồ-Định vị-Tìm đường

    Chơi cờ Line 98